Cẩn trọng trước mưu đồ mới của
Trung Quốc nhằm độc chiếm Biển Đông
Gia tăng các hành động trái phép trên thực địa
Trong vòng 30 năm qua, Trung
Quốc đã tiến hành nhiều hoạt động trái phép nghiêm trọng ở Biển Đông nhưng có lẽ
6 tháng đầu năm 2020 là đỉnh điểm của hoạt động quấy rối kiểu này. Các tàu cá,
tàu thăm dò địa chất của Malaysia, Phillipines, Indonesia và cả Việt Nam đều bị
Trung Quốc “hỏi thăm”.
Mới đây nhất, vào ngày 14/6, Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu khảo sát Hải
Dương 4 xâm nhập vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bất chấp nguy cơ hành động
này gây thêm căng thẳng trên Biển Đông.
Liên tục tiến hành các hành vi
sai trái
Theo bà Sumathy Permal, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển
Malacca, Malaysia, những hành vi gây hấn nói trên cùng với việc Trung Quốc từ
nhiều năm qua liên tục cải tạo phi pháp các bãi đá ở Biển Đông và xây dựng các
công trình trái phép trên đó đồng thời ngang nhiên tuyên bố yêu sách Tứ Sa và
thành lập cái gọi là “khu Nam Sa” và “khu Tây Sa” trên vùng biển thuộc chủ quyền
của Việt Nam là những bước đi đầy toan tính.
“Khi yêu sách Tứ Sa được công khai tức là Trung Quốc đã chuẩn bị cho một
chiến lược dài hơi nhằm độc chiếm Biển Đông một cách trái với pháp luật quốc tế.
Dịch COVID-19 với diễn biến phức tạp tại các nước trong khu vực tạo cơ hội cho
Trung Quốc có thêm những hành động leo thang căng thẳng khiến cộng đồng quốc tế
hết sức quan ngại”, bà Sumathy Permal nói.
Nhắc đến vụ tàu hải cảnh Trung Quốc
đâm chìm tàu cá QNg 90617 TS với 8 ngư dân của Việt Nam ngày 2/4, Giám đốc
Trung tâm nghiên cứu hàng hải eo biển Malacca chỉ rõ, đây không phải là lần đầu
tiên Trung Quốc có hành vi hết sức nguy hiểm và đáng lên án như trên. Hồi tháng
6 năm 2019, tàu cá mang số hiệu F/B GIMVERQ của Philippines với 22 ngư dân trên
tàu cũng đã bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở gần bãi Cỏ Rong trên Biển Đông.
“Một trong những chiến thuật
chính mà Trung Quốc thường xuyên sử dụng là triển khai các nhóm tàu hỗn hợp gồm
tàu cá, tàu hải cảnh và tàu hải giám tới vùng biển của các quốc gia trong khu vực
nhằm thực hiện hành vi khai thác trái phép, quấy rối, thậm chí gây hấn và tấn
công tàu các nước khác. Điều tôi lo ngại là hành vi này của Trung Quốc không những
duy trì liên tục trong suốt nhiều năm qua mà còn tăng cường cả về tần suất, mức
độ và số lượng tàu tham gia. Riêng trong những tháng đầu năm 2020 thì đã đạt
ngưỡng chưa từng có trong tiền lệ”, bà Sumathy Permal phân tích.
Chuyên gia từ chương trình An
ninh hàng hải thuộc Đại học Nanyang của Singapore, Collin Koh cũng nhận định:
“Các hành vi của Bắc Kinh mà chúng ta đang thấy trên Biển Đông đã từng diễn ra
trước đó và chắc chắn sẽ lặp lại trong tương lai. Rõ ràng là sau khi hoàn tất
việc bồi đắp trái phép các đảo nhân tạo, tăng cường được sự hiện diện thường
xuyên trên Biển Đông, Bắc Kinh bắt đầu lập kế hoạch khác để củng cố yêu sách chủ
quyền vô lý và liên tục bổ sung các chiêu thức mới. Giờ đây, Trung Quốc “đánh mạnh”
vào kinh tế các nước bằng việc dùng tàu hải cảnh và tàu khảo sát cản trở các hoạt
động khai thác dầu khí của quốc gia khác trên Biển Đông.
Quả thực, như đối với Việt Nam, nếu
trong vòng 30 năm qua, Trung Quốc chỉ tiến hành gần chục hoạt động trái phép
nghiêm trọng ở Biển Đông như đưa tàu thăm dò dầu khi vào bãi Tư chính năm 1994,
đưa tàu Kan Tan-3 vào khảo sát ở khu vực chồng lấn trong vịnh Bắc Bộ năm 1997,
thực hiện một số vụ cắt cáp tàu khảo sát dầu khí của Việt Nam trong đó có tàu
Bình Minh năm 2011, đưa giàn khoan HD981 vào vùng biển Việt Nam năm 2014, đưa
tàu đến cản phá hoạt động dầu khí ở cực Nam thềm lục địa Việt Nam (năm 2017 và
2018) và đưa tàu vào vùng biển Nam Biển Đông của Việt Nam (năm 2019) thì riêng
trong 6 tháng đầu năm 2020, các vụ cản trở kiểu này đã chiếm gần ½ con số
này.
Với các quốc gia khác, Trung Quốc
cũng không nể nang. Sau cuộc đụng độ với tàu của Malaysia hồi đầu năm, tháng 4
vừa qua, tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc lại bám theo tàu thăm
dò dầu khí West Capella của Malaysia và hoạt động cách bờ biển Malaysia chỉ hơn
300km. Chưa hết, tàu cá của Trung Quốc cũng đã gây rối gần quần đảo Natuna của
Indonesia khiến quân đội Indonesia phải điều máy bay chiến đấu và tàu chiến tới
tuần tra.
Tổng thống Indonesia Joko Widodo
cũng bay tới khu vực này và tuyên bố “không thương lượng chủ quyền” với Trung
Quốc. Greg Poling, Giám đốc tổ chức Sáng kiến Minh bạch hàng hải (AMTI) thuộc
Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) ở Washington (Mỹ) cho rằng,
Trung Quốc sẽ không dừng lại và tiếp tục xây dựng các đảo nhân tạo trái phép ở
Biển Đông, lập thêm các đội tàu hải cảnh để bảo vệ tàu cá ở Biển Đông và giao
thêm nhiệm vụ cho các tàu cá không chỉ đánh cá mà còn quấy rối ngư dân của các
nước trong khu vực.
“Mỗi ngày các nước đều chứng kiến
có tới gần 100 tàu cá Trung Quốc hoạt động cùng các tàu hải cảnh. Các đảo nhân
tạo sẽ được Trung Quốc dùng như căn cứ quân sự và giúp Trung Quốc mở rộng việc
kiểm soát trên Biển Đông. Những đảo này được trang bị radar và khả năng giám
sát, giúp Trung Quốc quan sát mọi thứ diễn ra ở Biển Đông. Trước đây Trung Quốc
có thể không biết quốc gia khác khai thác tài nguyên ở đâu. Nhưng giờ thì họ biết
rõ điều đó”, ông Greg Poling lo ngại.
Rõ ràng, Trung Quốc giờ không còn
úp mở mà thẳng thừng công khai quan điểm ngăn chặn, khống chế các hoạt động
đánh bắt cá và thăm dò dầu khí của các quốc gia khác trên Biển Đông. Nghĩa là,
trong quan hệ ngoại giao với những nước ở Đông Nam Á, Bắc Kinh đã chuyển hướng
về chính sách. Bình luận về những vấn đề liên quan đến Biển Đông, hãng CNN hồi
đầu tháng 6 còn có bài viết khẳng định, Trung Quốc đang gia tăng áp lực, gây
nguy cơ xung đột trên Biển Đông.
Con dao hai lưỡi
Các chuyên gia cho rằng sự gia
tăng mạnh mẽ hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông làm tổn hại danh
tiếng quốc tế của nước này. Ian Storey, thành viên cao cấp tại Viện ISEAS-Yusof
Ishak ở Singapore đánh giá, "trước sự cố thủ của Trung Quốc ngay cửa
nhà", giờ đây dường như là thời điểm để các quốc gia ASEAN đang kết hợp với
nhau và sẵn sàng đối mặt với Bắc Kinh.
"Cho dù Trung Quốc có thúc đẩy
mạnh mẽ như thế nào, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ thấy các thành viên ASEAN hợp nhất
và trình bày mặt trận thống nhất mạnh mẽ chống lại Trung Quốc", ông Ian
Storey nói và chỉ rõ, Malaysia từ lâu đã thực hiện chính sách vừa cân bằng lợi
ích của mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc với việc điều hành chính sách đối
ngoại độc lập của riêng mình. Đó là lý do tại sao các cuộc đụng độ trước đây với
các tàu Trung Quốc ở vùng biển Malaysia bị ngăn chặn nhiều nhất có thể.
Còn Indonesia trong quá khứ đã nổ
súng vào các tàu cá Trung Quốc không rời khỏi vùng biển của nước này và hành vi
cứng rắn của Tổng thống Widodo vào tháng 1 cho thấy ông sẽ không ngồi yên trong
khi Bắc Kinh di chuyển vào quần đảo Natuna.
Trong khi đó, Mỹ đã tăng cường tự
do hoạt động hàng hải ở Biển Đông, nắm giữ một nửa số lượng hoạt động trong 5
tháng đầu năm 2020. Washington cũng đang nỗ lực để hỗ trợ trực tiếp các quốc
gia ASEAN như việc chuyển giao cho hải quân Malaysia lô máy bay không người lái
giám sát đầu tiên hồi tháng 5. Và gần đây, các tàu chiến của Hải quân Mỹ đã thực
hiện cái gọi là "hoạt động hiện diện" gần các giàn khoan đang bị tàu
Trung Quốc theo dõi. Nhiều quốc khác thì thì tỏ thái độ phản ứng, không ủng hộ
hành động của Bắc Kinh ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.
GS James Holmes thuộc Đại học Chiến
tranh Hải quân Mỹ khẳng định: "Tôi nghĩ rằng Trung Quốc đã thực sự chơi
quá tay một cách nghiêm túc bằng cách bắt nạt và quá hung hăng. Điều đó bắt đầu
thúc đẩy các quốc gia trong khu vực gia tăng lo lắng về sự xâm lược của Trung
Quốc... Trung Quốc càng thúc đẩy thì họ càng có khả năng đoàn kết và đẩy lùi. Bất
kỳ sự đẩy lùi nào cũng có thể khiến Bắc Kinh phải trả giá. Trung Quốc có quan hệ
thương mại chặt chẽ với nhiều nước láng giềng trong khu vực như Philippines,
Malaysia và Indonesia, và cần họ cho các phần trong chương trình "Sáng kiến
Vành đai và Con đường". Đã có rất nhiều khó chịu trong khu vực về cách
Trung Quốc sử dụng Covid 19 để thúc đẩy các yêu sách của mình ở Biển Đông,
Trung Quốc sẽ không muốn phá hủy hoàn toàn mối quan hệ với ASEAN bằng cách đẩy
quá mạnh”.



0 Nhận xét