Thật giả: Ai “bán” thác Bản Giốc,
Ải Nam Quan, và Vịnh Bắc Bộ?
Ngày 7/8 vừa qua, giữa những
biến động lớn cả trong và ngoài nước, Việt Nam lại chứng kiến sự ra đi của
nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Những tưởng dành cho Thượng tướng chỉ có những
lời tiếc thương đưa tiễn đưa người con ưu tú của đất nước, thì đáng buồn thay,
có những kẻ mượn cái danh ‘nghĩa tử nghĩa tận’ để gán cho ông cái “danh” ‘bán
nước cầu vinh’. Bọn họ, những kẻ vì phục vụ thủ đoạn của mình, sẵn sàng công
kích cả người đã khuất mà nói ông “bán Ải Nam Quan, thác Bản Giốc”, “bán 15
ngàn ky lô mét vuông vịnh Bắc Bộ”. Mặc dù dò tìm, gán ghép, xuyên tạc luôn
là nghệ thuật đỉnh cao của những kẻ vong quốc này, những kẻ khoác áo ‘đấu tranh
dân chủ’ cuội này; Nhưng ngay cả gán ghép bôi nhọ người đã khuất, khiến tôi thật
sự “sốc”. Ông bà ta có câu ‘nghĩa tử là nghĩa tận’liệu có phải là quá đáng khi
gán ghép tội danh không có cho người đã khuất không? Người có công đề xướng công
cuộc chấn chỉnh Đảng, chống tham nhũng không?Cho dù các người vì miếng cơm manh
áo của riêng mình, vì trả ơn ‘mưa mốc’ cho người đã ‘nuôi’ mình, thiết nghĩ ‘hạ
bút cũng phải lưu tình’ không nên gán ghép, xúc phạm người đã khuất như vậy chứ.
Thật đúng là một lủ kền kền, sâu bọ chuyên canh giữ và ăn cả xác chết.
Trước tiên, xin bàn về luận điệu
“hạ bút ký biên bản nhượng Ải Nam Quan, thác Bản Giốc” là hư cấu. Gọi là hư cấu, vì vào ngày
31/12/1999, Bộ Ngoại giao Việt Nam và Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ ký kết duy
nhất “Hiệp ước Biên giới trên đất liền giữa Việt Nam – Trung Quốc”. Bất kỳ một
thỏa thuận, giao ước nào giữa hai quốc gia đều phải được gọi đúng tên là Hiệp ước,
được cả hai bên và cộng đồng thế giới công nhận. Biên bản, về bản chất, không
có hiệu lực pháp lý để thi hành, mà chỉ là “văn bản ghi chép lại những sự việc
đã xảy ra hoặc đang xảy ra.” Chỉ riêng điều này cũng đủ để thể hiện sự thiếu kiến
thức trầm trọng về luật pháp lẫn tiếng Việt của những kẻ thích đi rao giảng,
“luận tội”, nhưng đầu óc thì lại trống rỗng.
Trong “Hiệp ước Biên giới trên đất
liền giữa Việt Nam – Trung Quốc” (Hiệp ước 1999), cả hai nước Việt Nam và Trung
Quốc đều thống nhất chỉ lấy hai tài liệu lịch sử là Công ước Pháp – Thanh 1887
và Công ước Pháp – Thanh 1895 làm cơ sở xác định đường biên giới giữa hai nước,
được chính quyền thực dân Pháp khi đó đang đô hộ nước ta với triều đình nhà
Thanh, phân định và cắm các cột mốc biên giới. Sau hơn 100 năm, thiên nhiên đã
làm xói mòn, thất lạc các cột mốc này, dẫn đến những xung đột về chủ quyền tại
vùng biên giới, ảnh hưởng rất lớn đến an ninh và cuộc sống của người dân nơi
đây.
‘Tấc đất, tấc vàng’ngay cả anh em
ruột thịt đụng đến đất đai cũng đều tranh chấp hết sức quyết liệt. Chính vì lẽ
đó, Bộ Ngoại giao nước ta đã phải trải qua chặng đường hơn 30 năm đầy cam go để
đưa chính phủ Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán, thuyết phục họ xác lập lại đường
biên giới bằng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến, trên hết là đảm bảo sự bình
yên cho cuộc sống của người dân vùng biên giới, là một kỳ công của chính phủ nước
ta trong công tác ngoại giao tại thời điểm đó.
Việc tranh chấp xung quanh thác Bản
Giốc xuất phát từ thực tế Công ước 1887 và 1895 không mô tả cụ thể khu vực cồn
Pò Thoong (nơi có dòng chảy của sông biên giới Quây Sơn), mà chỉ phân định “Từ
điểm này, đường biên giới chạy theo chính giữa (trung tuyến) dòng sông cho đến
thác Ta Tung” trong biên bản phân giới cắm mốc giữa Pháp và nhà Thanh ngày
31/5/1892. Vì vậy mà Hiệp ước 1999 cũng đã không thể giải quyết dứt điểm vấn đề
này, mà để bỏ ngỏ 4 khu vực loại C, chứ không hề bị “bán mất” như những luận điệu
xuyên tạc.
Đến tận năm 2008, Trung Quốc mới
chấp nhận lấy đường biên giới từ mốc 53 cũ đi qua cồn Pò Thoong, rồi đi tiếp đến
chính giữa mặt thác chính của thác Bản Giốc, sau đó đi theo trung tuyến của
dòng chảy chính của sông Quây Sơn. Với kết quả đó, một phần hai thác chính của
Bản Giốc cùng toàn bộ phần thác phụ và một phần tư cồn Pò Thoong quy thuộc Việt
Nam. Trong khi nếu theo nguyên tắc quốc tế thì toàn bộ cồn này phải thuộc về
Trung Quốc vì dòng chảy chính nằm về phía Việt Nam. Như vậy, kết quả của việc
phân định biên giới tại thác Bản Giốc thực tế đã mang lại cho Việt Nam một phần
cồn Pò Thoong, chứ không hề mất thác Bản Giốc. Việc lầm tưởng thác Bản Giốc
hoàn toàn thuộc về Việt Nam có thể nói xuất phát từ tiềm thức của người Việt,
do đời sống và tinh thần gắn liền với dòng thác, mang đến một cảm tình đặc biệt.
Nhưng biên giới đã định, không chỉ là câu chuyện mới, mà đã có từ hơn 100 năm
trước. Những viện dẫn từ các tài liệu lịch sử khác, đáng tiếc, không phải là bộ
phận của hai Công ước ký kết giữa Pháp và nhà Thanh, vì vậy không có giá trị
pháp lý.
Thực chất, vào thời điểm đó,
chính quyền thực dân Pháp – đại diện bởi Đặc sứ Ernest Constans – vì muốn được
‘danh chính ngôn thuận’ công nhận sự chiếm đóng tại nước ta đã nhân nhượng mà
trao cho triều đình Mãn Thanh gần như toàn bộ tổng Tụ Long (khoảng 750m2 thuộc
tỉnh Hà Giang thời ấy), và đánh mất luôn hơn chín xã thuộc tổng Kiền Duyên và
Bát Tràng (tỉnh Quảng Yên, nay là Quảng Ninh). Vậy câu hỏi ai ‘bán nước cầu
vinh’, đến đây cũng đã rõ.
Hơn nữa, nếu xét về về góc độ
ngôn ngữ, cái tên Ải Nam Quan có nghĩa là “Cửa ải đi về phía Nam”. Nếu là phần
đất của nước Việt, chẳng phải gọi tên Ải Bắc Quan mới đúng? Nếu triều đình nhà
Thanh từng xây cổng thành phân định biên giới, hiển nhiên nó phải được xây trên
phần đất của nhà Thanh. Như vậy, chỉ riêng cái tên của vùng đất này cũng đã phản
ánh thực tế biên giới tại đây.
Đất nước ta đã trải lịch sử hơn
4.000 năm, cũng là từng ấy thời gian bang giao với nước láng giếng phương Bắc.
Trong những thời kỳ trước, với sự vắng bóng của khoa học công nghệ, sự sai lệch,
dị bản trong việc ghi chép sử sách, cùng những biến cố lịch sử, đường biên giới
giữa nước ta và Trung Quốc chưa bao giờ được phân định một cách chính xác, thậm
chí bị xê dịch, xâm lấn. Hiệp ước 1999 vì thế đã định ra những cột mốc biên giới
bằng phương tiện, kỹ thuật tiên tiến, bền vững, để từ nay và muôn đời sau, quốc
gia láng giềng cũng không thể lợi dụng bất kỳ cái cớ hay một cuộc binh biến nào
để thay đổi đường biên giới được nữa. Thành quả suốt 30 năm đấu tranh của Bộ
Ngoại giao và cố Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, trái với suy nghĩ lệch lạc là một
“cuộc bán đất”, thực tế chính là chiếc gông cùm vào bất kỳ mưu đồ xâm lược nào
từ phương Bắc, bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền cho tổ quốc.
Lại nói về luận điệu “mất 15 ngàn
ky lô mét vuông vịnh Bắc Bộ”, con số này xuất phát từ Ngân hàng Thế giới World
Bank, cụ thể là vào năm 1999, dữ liệu của WB cho thấy chỉ tiêu diện tích đất của
Việt Nam bất ngờ “sụt giảm” từ 325 ngàn ky lô mét vuông xuống còn 310 ngàn ky
lô mét vuông. 15 ngàn ky lô mét vuông này tương đương với khoảng 5% diện tích cả
nước, bằng toàn bộ vùng đồng bằng sông Hồng, hay gần như toàn bộ tỉnh Nghệ An.
Quả là sự việc “đáng ngờ”, nhưng tại sao lại có sự thay đổi “bất thường” này?
Việc này bắt nguồn từ thay đổi của chính World Bank trong định nghĩa về diện tích
đất. Trước thời điểm 1998-2001, World Bank cùng nhiều tổ chức khác đều tính diện
tích nước mặt nội địa và vùng thủy nội địa trong cách tính của mình, và theo
đó, diện tích của Việt Nam được tính theo tổng diện tích đất (310 ngàn ky lô
mét vuông) và diện tích nước mặt (15 ngàn ky lô mét vuông). Sau khi thống nhất
điều chỉnh cách tính, Ngân hàng Thế giới công nhận diện tích lãnh thổ nước ta
là 310 ngàn ky lô mét vuông.
Nói cách khác, sự khác biệt về số
liệu diện tích trước và sau giai đoạn 1998-2001 – thời điểm cố Tổng Bí Thư bị
“luận tội” bán đất – đơn giản chỉ là sự thay đổi về cách tính của các tổ chức
trên thế giới. Đáng tiếc rằng, những kẻ đang rung đùi “lên án” cố Tổng Bí thư,
một lần nữa lại dùng sự kém cỏi tri thức để làm công cụ bôi nhọ nhân cách của
ông.
‘Nghĩa tử là nghĩa tận’, câu tục
ngữ ngàn đời nay của người Việt Nam, xin dành cho những người thực sự cần “suy
ngẫm và ăn năn về những việc mình đã làm.” Khi tri thức bị xói mòn bởi sự mù
quáng về nhận thức, những con người đang vấy bẩn lương tâm của mình bằng những
lời lẽ xuyên tạc, công kích cả người đã khuất, hãy nghĩ đến câu nói của chính
mình: Hùm chết để lại da.
Theo HẠNH VĂN



0 Nhận xét