Thưa các bạn:
Trên không gian mạng hiện nay có
rất nhiều kẻ thiếu hiểu biết (hoặc hiểu biết nhưng cố tình xuyên tạc) cách gọi
“Ngụy quân, ngụy quyền” trong lịch sử của Dân tộc. Chúng cho rằng gọi như vậy
là không chính xác, vì một chính phủ có tồn tại trong thực tế thì không thể nào
gọi là ngụy được. Đây là một nhận thức sai lệch, ấu trĩ, gây ảnh hưởng nghiêm
trọng đến nhận thức của các tầng lớp Nhân dân về lịch sử Dân tộc.
Hôm nay tôi sẽ làm sâu sắc hơn
cách gọi “ngụy quân, ngụy quyền”
trong lịch sử của Dân tộc, mà bất cứ kẻ
nào cũng không có quyền bỏ đi bản chất “Ngụy” vốn có của một chính phủ làm tay
sai cho giặc.
Tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ
đến được tai bọn ngụy sử như Vũ Minh Giang, Trần Đức Cường, Nguyễn Mạnh Hà,
Nguyễn Nhã, Dương Trung Quốc, Nguyễn Quang Ngọc, Hiển Vũ…cùng bọn đang ủng hộ
cho việc bỏ Tính từ “Ngụy” trong các bộ lịch sử Việt Nam
Bài viết tuy dài nhưng có rất nhiều
bằng chứng cũng như bút tích, của tất cả các Chính phủ chính danh trên Thế giới
vẫn luôn sử dụng Tính từ “Ngụy” trong lịch sử của mình. Và đặc biệt là, cách mà
Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn sử dụng Tính
từ “Ngụy” trong các nghị quyết văn kiện của Đảng, cũng như các bức thư hay lời
kêu gọi mỗi khi nhắc đến một chính phủ làm tay sai cho ngoại bang rước voi về giày
mả Tổ.
A - Ý NGHĨA VÀ CÁCH SỬ DỤNG TỪ “ NGỤY “
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngụy là một từ gốc Hán trong tiếng
Việt có nhiều nghĩa tùy thuộc vào văn cảnh và từ ghép với nó. Nghĩa thường dùng
là để chỉ sự vật, sự việc mang tính giả tạo, như trong từ ngụy trang, ngụy tạo.
Trong lịch sử, từ "ngụy" được dùng để chỉ một chính phủ được lập ra một
cách bất hợp pháp, không chính thống, không được người dân công nhận, như là
trong từ ngụy triều, ngụy binh, ngụy quân, ngụy quyền.
Tại Việt Nam, có hai từ ngụy đồng
âm khác nghĩa thường được sử dụng trong văn hóa giao tiếp và văn học của người
Việt.
1 - Một từ ngụy (偽) là
tính từ, có ý nghĩa là "sự giả tạo", ví dụ như "ngụy tạo, ngụy
biện, ngụy trang, ngụy quân, ngụy quyền". Trong chính trị, từ này được
dùng để chỉ một triều đại hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm
lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ một nước khác. Về bản
chất, chính quyền này không có thực quyền, chỉ là hữu danh vô thực[1], chính
quyền này bị quân xâm lược nước ngoài khống chế, mang tính chất bất hợp pháp và
không chính danh[2] Trong lịch sử các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên,
Nhật Bản và Việt Nam, từ "ngụy triều","ngụy quyền" được sử
dụng nhiều trong các văn bản lịch sử. Ở phương Tây, thuật ngữ "ngụy quyền"
có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc Chính phủ bù nhìn, chế độ tay
sai, nhà nước con rối ("Puppet State, Puppet Regime").
Theo Từ điển bách khoa quân sự Việt
Nam (năm 2007) thì: "Ngụy quyền là chính quyền bản xứ do thế lực nước
ngoài dựng lên, nuôi dưỡng, sử dụng làm công cụ xâm lược, nô dịch của họ. Ở Việt
Nam, chính quyền Bảo Đại (1.949-1.954) và chính quyền Sài Gòn (1.954-1.975) đều
là ngụy quyền (do Pháp và Mỹ dựng lên)"[3].
2 - Một từ Ngụy khác (魏) là
danh từ dùng để chỉ địa danh, tên gọi tại Trung Quốc, ví dụ: nước Ngụy thời Chiến
Quốc bên Trung Quốc, nhà Ngụy thời Tam Quốc bên Trung Quốc, hay họ Ngụy tại
Đông Á, trong đó có Việt Nam. Từ này được viết hoa.
B - VIỆC XỬ DỤNG TỪ “ NGỤY “ TRONG LỊCH SỬ CÁC NƯỚC
Bách khoa toàn thư mở Wikipedi
TRUNG QUỐC :
Có một số triều đại và nhân vật
thì được sử sách Trung Quốc gọi là "ngụy" (偽 – viết khác từ "ngụy"
ở trên). Từ "ngụy" này là tính từ, chỉ sự giả tạo, bất hợp pháp,
không được thừa nhận. Ví dụ như triều đình "ngụy Sở" (1.127-1.128) của
Trương Bang Xương, triều đình "ngụy Tề" (1.130–1.137) của Lưu Dự do
nhà Kim lập ra. Các triều đình này chỉ là bù nhìn, được nhà Kim lập ra nhằm hợp
thức hóa sự xâm lược Trung Quốc.
Trong Chiến tranh Trung–Nhật,
Trung Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm. Chính phủ Quốc dân Trung Hoa Dân Quốc của
Uông Tinh Vệ và Chính phủ Mãn Châu quốc của Phổ Nghi, bị cả Đảng Cộng sản và Quốc
Dân Đảng gọi là "ngụy quyền", "ngụy quân", "ngụy Mãn
Châu quốc" hoặc "chính phủ ngụy" do các chính phủ này được Đế quốc
Nhật Bản lập ra nhằm hợp thức hóa sự xâm lược Trung Quốc. Thuật ngữ này cũng được
sử dụng trên các kênh truyền thông, sách báo, phim ảnh của Trung Quốc và Đài
Loan (của Quốc Dân Đảng) cho tới nay.
HÀN QUỐC VÀ TRIỀU TIÊN :
Bán đảo Triều Tiên từng bị Đế quốc
Nhật Bản xâm lược và đô hộ (giai đoạn 1.895-1.945). Hàng trăm nghìn người Triều
Tiên đã cộng tác với thực dân Nhật để đàn áp những đồng bào đấu tranh đòi độc lập.
Ngày nay, sử sách Triều Tiên và Hàn Quốc gọi những người Triều Tiên cộng tác với
quân Nhật là "ngụy quân". Sau khi giành được độc lập, Cộng Hòa Dân Chủ
Nhân Dân Triều Tiên đã bắt giam hoặc xử bắn hàng loạt những người hợp tác với
Nhật với tội danh phản quốc. Tại Hàn Quốc thì luật pháp có hẳn 1 quy định về đối
tượng này, Trung tâm Sự thật và Công lý Lịch sử (CHTJ) đã lập ra cả 1 danh sách
4.389 người từng cộng tác với Nhật để xét lý lịch với con cháu của họ, năm 2.019
Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in nói rằng “xóa sạch những dấu tích của việc cộng
tác với Nhật Bản là điều nên được thực hiện từ lâu”[4]
VIỆT NAM :
A / THỜI PHÁP THUỘC
Sau khi quân đội viễn chinh Pháp
xâm lược và áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương (trong đó có Việt Nam), Chính
phủ Pháp đã dùng chính sách "chia để trị" và chia cắt Việt Nam ra làm
3 xứ riêng lẻ là Cochinchine (Nam Kỳ), Annam (Trung Kỳ), và Tonkin (Bắc Kỳ), 3
vùng cùng với Lào và Campuchia đã trở thành Liên bang Đông Dương (Union
Indochinoise) hay còn được gọi với tên Đông Dương thuộc Pháp (Indochine
française). Người Pháp tiếp tục duy trì các hoàng đế bù nhìn từ Đồng Khánh,
Thành Thái, cho đến Bảo Đại. Vào năm 1.887, hoàn tất quá trình xâm lược Việt
Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy cai trị khá hoàn chỉnh từ trung ương
cho đến địa phương.
Trong thời gian cai trị Việt Nam,
thực dân Pháp đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho
xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy
người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam,
tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố
vàng... Một số người Việt được toàn quyền Đông Dương tuyển dụng vào quân đội Lê
dương Pháp. Tất cả các đội quân này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Các lực lượng
nghĩa quân và nhiều người dân bản xứ gọi các đội quân này là ngụy quân hoặc ngụy
binh. Họ cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là "ngụy triều", thường
kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20, các nhà Nho thường
gọi triều đình là "ngụy triều Khải Định".[9]
B / CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN QUỐC GIA VIỆT
NAM
Ngày 02 Tháng 09 Năm 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam Việt Nam, chỉ bốn ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc
lập, quân Pháp đã quay lại xâm chiếm miền Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Chính phủ Pháp muốn khôi phục thuộc địa Đông Dương, quân Pháp tuyên bố sẽ lập
chính quyền mới tại miền Nam. Sau đó, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát
thành phố Sài Gòn. Nước Việt Nam vừa giành được độc lập lại hứng nạn ngoại xâm.
Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp
Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền
Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch
phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh miền Nam Việt
Nam, chiến tranh Đông Dương bùng nổ.
Chiến tranh Việt – Pháp kéo dài từ
năm 1.945 đến 1.954. Năm 1.948, theo chiến lược Da vàng hóa chiến tranh, Tổng
thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố
thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc
trưởng Bảo Đại để làm đối trọng với Việt Minh. Dù vậy, người Pháp đã khéo léo
khi thực tế trong hiệp ước, nghĩa chính xác của từ "độc lập", quyền hạn
cụ thể của chính phủ mới đã không được người Pháp xác định rõ để tránh phải
trao quyền chính trị cho Quốc gia Việt Nam.[10]. Theo Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, ý đồ của Pháp là muốn áp dụng chính sách Da vàng hóa chiến tranh, "Lấy
chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt"[11] và để
thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại
Đông Dương [12].
Theo Nghị định Quốc phòng ngày 13
tháng 4 năm 1949, một lực lượng quân đội của Quốc gia Việt Nam được thành lập,
lấy tên là Vệ binh Quốc gia[13][14] sẽ cùng phối hợp với quân Pháp để đánh lại
Việt Minh. Ngày 11 tháng 5 năm 1950, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố chính thức
thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam với quân số lúc đó là 60.000 người [15].
Hiệp ước Elysee đã ghi rõ về vai
trò chỉ huy của Pháp: "Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt
Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà
Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá." Theo đánh
giá của Spencer C.Tucker, quân đội này được huấn luyện kém và không có sĩ quan
chỉ huy cấp cao người Việt[17]. Pháp chỉ đơn giản là đưa những người lính bản địa
mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp, tại đó, người chỉ huy
là các sĩ quan Pháp [18]. Quân đội Quốc gia Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào hệ
thống hậu cần của Pháp. Hai vấn đề quan trọng nhất là tài chính và quân đội của
Quốc gia Việt Nam thì vẫn do Pháp nắm giữ, nhân viên hành chính Pháp tiếp tục
làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút
quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một
sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp[20].
Theo phân tích pháp lý thì Hiệp định
Élysée về việc thành lập chính phủ Quốc gia Việt Nam là bất hợp pháp từ cả hai
bên ký kết vì những lý do sau[21]:
• Người Pháp không còn tư cách
pháp lý quốc tế ở Việt Nam sau khi vua Bảo Đại ra Tuyên cáo tháng 3-1.945, theo
đó xóa bỏ những hiệp ước mà nhà Nguyễn ký với Pháp. Sau khi Hồ Chí Minh đọc
Tuyên ngôn độc lập vào ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, việc Pháp đem quân can dự vào
Việt Nam là hành vi xâm lược, trái với luật pháp quốc tế.
• Bảo Đại (người ký Hiệp định
Élysée với Pháp) không có tư cách pháp lý đại diện cho đất nước Việt Nam, bởi
ông đã thoái vị ngày 25-8-1945 và chỉ còn là một công dân bình thường.
• Chính phủ hợp pháp đại diện cho
nước Việt Nam khi đó là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mọi văn bản do công dân Việt
Nam ký với bất kỳ chính phủ nào mà không được phép của Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa thì đều là vô giá trị.
Do chính phủ Quốc gia Việt Nam được
thành lập một cách bất hợp pháp và bị Pháp thao túng, nên trong thời gian chiến
tranh chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gọi
chính phủ Quốc gia Việt Nam là ngụy quyền và Quân đội Quốc gia Việt Nam là ngụy
binh, ngụy quân, quân ngụy, hoặc lính ngụy.
Trong Hội nghị lần 2 Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa II họp từ ngày 27/9 đến ngày
5/10/1951, Hội nghị nhận định tình hình chiến sự và đề ra nhiệm vụ phải phá
chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người
Việt" của thực dân Pháp và nhấn mạnh công tác "ngụy vận", đặc điểm
của công tác này là phải: Coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần
chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong
vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện
thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy
binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói
trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng
cường công tác vận động binh sĩ Âu - Phi.[22]
Năm 1.951, Quốc hội Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra lời hiệu triệu nhân ngày kỷ niệm toàn quốc kháng chiến, lên án
chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của thực dân Pháp:
"Không đủ sức chống kháng
chiến, đế quốc Mỹ và thực dân Pháp lợi dụng bọn bù nhìn vong bản thi hành chính
sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt",
dùng độc lập giả hiệu để mê muội, đốt làng cướp của làm cho dân ta bần cùng trụy
lạc để dễ áp bức lừa phỉnh, bắt thanh niên đi lính ngụy để đánh lại đồng
bào."[23][24]
Cùng năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh
liên tục viết ba bức thư gửi binh lính trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam
để thuyết phục họ về với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt
Nam. Tháng 6 năm đó Ông viết bức thư "Vận động ngụy binh" [25]. Tháng
9 Ông viết bức thư "Thư gửi các ngụy binh" [26]. Tháng 11 ông viết bức
thư "Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc" [27].
Tháng 3 năm 1.952, Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết bức thư "Ngụy binh giác ngộ" nêu một số tấm gương lính
người Việt trong Quân đội bù nhìn Quốc gia Việt Nam rời bỏ hàng ngũ theo về với
Việt Minh. Nội dung tuyên truyền chính sách khoan hồng của Đảng Lao động và Việt
Minh[28][29]:
“ Đại đa số ngụy binh là những thanh
niên bị bắt buộc hoặc bị lừa bịp mà đi lính cho giặc. Nhưng họ vốn cũng có lòng
yêu nước và ghét giặc. Ta giải thích rõ cho họ, khoan hồng với họ, thì họ sẽ
giác ngộ và quay về với Tổ quốc. Nhiều lần, sự thực đã chứng tỏ như vậy. Cho
nên cán bộ, bộ đội và nhân dân ta phải thi đua địch vận, ngụy vận, xem đó là một
nhiệm vụ kháng chiến, thì ta sẽ không tốn đạn hao binh, mà được cả người lẫn
súng. Và do đó, ta sẽ phá tan mưu mô của địch "dùng người Việt đánh người
Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh".
C / NGỤY QUÂN NGỤY QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA
Việt Nam Cộng hòa được Hoa Kỳ
thành lập trên cơ sở kế thừa từ Quốc gia Việt Nam. Cũng giống như tiền thân là
Quốc gia Việt Nam, chế độ Việt Nam Cộng hòa bị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam coi là một chính phủ tồn tại bất hợp
pháp, là chính phủ bù nhìn do Mỹ thao túng, và gọi đó là "ngụy quyền Sài
Gòn" hay "ngụy quyền"; và quân lực Việt Nam Cộng hòa thì được gọi
là "ngụy quân".
Từ ngụy quyền/quân có nghĩa là
chính quyền/quân đội bất hợp pháp.[31]Cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các
nghị quyết, văn kiện Đảng, phương tiện truyền thông chính thức của Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
[32][33][34][35][36]. Trong thời kỳ chiến tranh, Việt Nam xác định Mỹ là kẻ thù
chính, chế độ Việt Nam Cộng hòa chỉ là ngụy quân, ngụy quyền do Mỹ khống chế, nếu
Mỹ thất bại thì ngụy quân, ngụy quyền cũng phải sụp đổ. Vì vậy Việt Nam xác định
chỉ tiến hành đấu tranh với Mỹ, gọi đây là cuộc chiến tranh "chống Mỹ cứu
nước" chứ không phải là"chống ngụy cứu nước".
Cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam là
cuộc chiến theo kiểu chủ nghĩa thực dân mới. Theo đó, Mỹ chỉ đứng ngoài chỉ đạo,
kiểm soát và thu lợi, còn việc thực thi là trách nhiệm của chính phủ tay sai bản
địa, chứ Mỹ không trực tiếp tham chiến như Pháp (thực dân cũ), đó chính là chiến
lược "Chiến tranh đặc biệt" mà Mỹ áp dụng trong giai đoạn 1.955-1.963.
Cách này tương tự như đạo diễn điều khiển diễn viên đóng kịch trên sân khấu
theo kịch bản cho trước. Đến khi Việt Nam Cộng hòa tỏ ra vô dụng quá mức, không
đảm đương nổi vai diễn (Chiến tranh đặc biệt thất bại vào năm 1.963), thì
"đạo diễn" là Mỹ buộc phải nhảy ra sân khấu làm kép chính luôn, và
hàng trăm nghìn quân Mỹ đã tới Việt Nam tham chiến trực tiếp trong giai đoạn 1.964-1.973.
Tài liệu được giải mật của Lầu
Năm Góc đã viết: "Không có sự yểm trợ của Hoa Kỳ, Diệm hầu như chắc chắn
không thể đứng vững được ở miền Nam... Việt Nam Cộng hòa, về bản chất, là một
sáng tạo của Hoa Kỳ"[37] Thậm chí tổng thống Mỹ Nixon trong lúc tức giận
còn từng nói: "Không thể để có cái đuôi chó phản lại cái đầu con chó được."[38]
Tại cuộc họp do Hội
"American Friends of Vietnam", một tổ chức vận động ủng hộ Ngô Đình
Diệm ở Washington D.C. ngày 1/6/1956, John F. Kennedy (một năm sau trở thành Tổng
thống Mỹ) tuyên bố: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ
[chỉ Việt Nam Cộng hòa] thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của nó.
Chúng ta chủ tọa lúc nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định
hình tương lai của nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta - chúng ta không thể bỏ
rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó”[39]
Trong thập niên 1.960, Chủ tịch Hồ
Chí Minh có nhiều bài báo, bài diễn văn gọi chế độ Việt Nam Cộng hòa là
"ngụy quyền" để nhấn mạnh tính chất bất hợp pháp, làm tay sai cho giặc
ngoại xâm của chế độ này. Viết trên bài chính luận "Sách Trắng của Mỹ"
nhằm phản đối việc Mỹ đổ quân viễn chinh vào Việt Nam năm 1.964, Chủ tịch Hồ
Chí Minh viết[42]:
“ "Ở Hội nghị Giơnevơ, Chính
phủ Mỹ đã tuyên bố rằng: Mỹ sẽ không đe dọa hoặc dùng vũ lực cản trở Hiệp định ấy.
Nhưng chữ ký chưa ráo mực thì Mỹ đã dùng mọi cách phá hoại Hiệp định Giơnevơ. Mỹ
nặn ra chính phủ bù nhìn phát xít Ngô Đình Diệm, huấn luyện cho ngụy quyền một
quân đội lính đánh thuê khát máu. Suốt mười nǎm trời, gần 20 vạn đồng bào miền
Nam yêu nước đã bị Mỹ - Diệm khủng bố, tù đày, chặt cổ mổ bụng. 70 vạn người đã
bị tra tấn giam cầm trở nên tàn phế. Hàng triệu người bị nhốt vào các trại tập
trung mà chúng gọi là "ấp chiến lược". Không gia đình nào không có
người bị hy sinh. Không làng xóm nào không bị càn quét. Đế quốc Mỹ và bọn tay
sai đã phạm hết mọi tội ác dã man, chúng đã biến miền Nam thành một địa ngục...
”
Trong "Lời Kêu gọi Toàn quốc
Kháng chiến chống Mỹ cứu nước" năm 1.966, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết[43]:
“ Chúng (Đế quốc Mỹ) ồ ạt mang gần
30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy
quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực
kỳ man rợ, như chất độc hoá học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch,
giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền
Nam ta... ”
Bài thơ Chúc Tết năm 1969 là bài
thơ chúc Tết cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tới toàn dân Việt Nam,
trong đó có 2 câu:
“ "Vì độc lập, vì tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy
nhào"[44][45]
”
Trong bài báo "Lại chuyện
chó Mỹ" trên báo Nhân dân số ngày 20/1/1.966, tác giả mỉa mai rằng một con
chó nghiệp vụ của quân đội Mỹ còn được đãi ngộ tốt hơn so với một lính ngụy[46]:
“ Chó sǎn là đồng minh trung
thành của đế quốc Mỹ. Đây là chuyện chó sǎn có bốn chân, chứ không phải loài
chó sǎn mặt người bụng thú, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà, như bọn
Thiệu – Kỳ.
Từ ngày Mỹ phái Hakin lập bộ tư lệnh
ở Sài Gòn, thì chó Mỹ cũng được phái đến miền Nam nước ta. Chúng được ở nhà lầu,
có lính ngụy hầu hạ. Mỗi con chó Mỹ được ǎn lương gấp nhiều lần lương của một
ngụy binh. Một chuyện thú vị là tháng 9-1.964, giặc Mỹ đưa 200 chó sǎn đến Tây
Nguyên bắt đồng bào Thượng nuôi. Non một tháng sau, đàn chó biến mất hết, chỉ
còn lại mấy đống xương...”
Năm 1.960, Mặt Trận Dân tộc Giải
phóng miền Nam Việt Nam được thành lập trên danh nghĩa "Đoàn kết toàn dân
đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của
chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc"[47]. Chính sách học
tập cải tạo sau năm 1.975 tại Việt Nam cũng được thực hiện với nghị quyết:
"Việc tổ chức cho ngụy quân, ngụy quyền và các đối tượng phản động ra
trình diện học tập cải tạo thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước,
có tác dụng phân hóa hàng ngũ bọn phản động, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, đập
tan luận điệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch, tranh thủ được sự đồng
tình và ủng hộ của nhân dân."[48]
Trong một số tài liệu, sách sử của
phương Tây hiện nay, chế độ Việt Nam Cộng hòa cũng được sử gia nước ngoài gọi
là "chính phủ bù nhìn, Tay sai, con rối", những từ có ý nghĩa tương tự
như từ "Ngụy"[54]
C – KẾT LUẬN :
Thưa các bạn:
Sẽ không có gì gọi là “Miệt thị,
phản cảm, hay không khoa học, không khách quan” khi mà cả Thế giới vẫn sử dụng
những ngôn từ mạnh mẽ như “Ngụy, Bù nhìn, Tay sai, Con rối” để chỉ một chính phủ
do nước ngoài tạo dựng nên, nhằm phục vụ quyền lợi và lợi ích của kẻ xâm lược.
CHỈ CÓ MỘT CHÍNH PHỦ ĐƯỢC NHÂN
DÂN BẦU NÊN ( CHÍNH PHỦ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, NGÀY NAY LÀ Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa VIỆT NAM ) PHỤC VỤ QUYỀN LỢI VÀ LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN, MỚI HỘI ĐỦ ĐIỀU KIỆN
LÀ MỘT CHÍNH PHỦ HỢP PHÁP TRÊN TOÀN BỘ LÃNH THỔ VIỆT NAM.
Rất mong các bạn chia sẻ thật nhiều,
để cho Nhân dân hiểu biết rõ tại sao không thể bỏ Tính từ “Ngụy quân, ngụy quyền”
trong tất cả các bộ lịch sử Việt Nam khi ghi chép lại.
Xin chào các bạn



0 Nhận xét