(Bài của Giáo Sư Tiến Sĩ Cao Huy
Thuần - người Pháp gốc Việt, hiện là giáo sư về ngành chính trị học tại đại học
Picardie, Pháp)
Con người Tây phương khám phá ra
rằng cách đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng nhu cầu của thời đại mới.
Tây phương đang chối
từ Thượng Đế thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế.
Tây phương phải nhờ
Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong
bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô
chung, vũ trụ là vô cùng vô tận.
Tây phương ngay
ngáy lo sợ về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế thì Phật giáo nói: không có
ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi.
Tây phương trăn trở
về những vấn đề siêu hình thì Phật giáo kể chuyện mũi tên: khi anh bị mũi tên độc
bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh ca vọng cổ hỏi mũi tên do ai bắn,
lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu.
Rút mũi tên ra: đó là nhu cầu giải
phóng con người ở Tây phương và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý
tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả
bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống hỏa
ngục.
Hợp với lý tính: người Tây phương
ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo, làm Phật giáo khác với các tôn giáo
khác. Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ.
Bởi vậy, trong Phật giáo không có
tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kalama khi Phật dạy:
“Đừng vội tin một điều gì dù điều
đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực
chứng rồi mới tin “.
Tinh thần đó xuyên suốt kinh kệ
Phật giáo.
Người trí thức Tây phương thấy
tinh thần đó hợp với khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “Phật giáo là tôn giáo
duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại”, Einstein đã phát biểu như vậy.
---
Tại sao Phật giáo hợp với khoa học?
Tại vì Phật giáo không nói điều
gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói: sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung
quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình: có cái gì là thường còn đâu? Cái
thường còn duy nhất là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu
không phải nơi chính cái khoảnh khắc này?
Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh
khắc: đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây
phương. Và hãy nhìn thêm nữa: mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà có và
tương quan lẫn nhau mà diệt. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có
không?
Đâu phải! Nếu không có mặt trời
thì nó đâu có hồng thắm như vậy? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của
màu hồng kia không? Không! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống? Nhưng mưa
có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái
này không thì cái kia cũng không. Đó là luật vô ngã của Phật giáo và cũng là luật
tương quan tương sinh.
Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý
học Trịnh Xuân Thuận đều biết: những luật đó có nhiều điểm hội tụ với khoa học
vũ trụ vật lý. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời
sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật
nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng.
Từ đó, người Tây phương đi đến một
cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ “khổ” trong Phật
giáo.
Họ chất vấn Thượng Đế:
Nếu Thượng Đế là toàn năng thì
sinh ra làm chi thiên tai, động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại
phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy?
Nếu Ngài là nhân từ thì sao con
người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu? Phải chăng, người Tây phương hỏi,
khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh
tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất?
Từ đó, Tây phương hiểu chữ “niết
bàn” của Phật giáo đúng hơn hồi thế kỷ 19: niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự
mình. Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi
không khỏi cười thầm, bởi vì “siêu” là vượt lên, “thoát” là giải thoát, vượt
lên trên tham sân si thì giải thoát, vậy thì nên cầu cho cả người sống được
siêu thoát.
--------
Tôi không dám đùa đâu, người Tây
phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ: nhân
bản nghĩa là con người vượt lên trên con người, con người có đủ khả năng để vượt
lên trên chính mình.
Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể
bằng cách nào? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến
trong tinh thần khoa học.
Trong lịch sử, Tây phương đã vượt
quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng
giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc
như họ tưởng bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong.
Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ: “Những
vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội
ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ
không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của
ta” (3). Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang
theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc
cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là “cách mạng ở bên trong”, bổ túc
cho “cách mạng ở bên ngoài” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học.
Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân.
Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ
thuật thiền định mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của
họ.
Trong lĩnh vực này, đừng hòng các
lang băm đến làm ăn bịp bợm: khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc
thám hiểm vào não bộ của con người.
Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính
bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường
ảnh hưởng của thiền định trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực
hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán
xét tính hiệu nghiệm của thiền định, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành
sinh học thần kinh.
Tôi xin thú thực: bản thân tôi có
tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi
thiền định dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu: mỗi
người chúng ta đều có một sức dự trữ tâm linh mà ta không ngờ bởi vì chưa bao
giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này - cuộc hành trình của ta tìm ta để chữa
bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.
Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản
và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật
giáo mà thôi hay không? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở
đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn
chế trong một vấn đề nữa thôi: đạo đức.
----
Đạo đức học ở Tây phương là những
răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón
tay chỉ vào trán và ra lệnh: mày không được thế này, mày không được thế kia,
mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai? Tại sao như thế là phạm tội? Tại sao tội
đó phải nhờ một người khác giải tội với Trên Cao? Đạo đức đó, con người hiện đại
chối bỏ vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên.
Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt
nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói: tham thì
khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ
bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng
giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu: đó là năm điều
tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó.
Đạo đức của Phật giáo là thực
nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm
nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc.
Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo
còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức
liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người
với thú vật, với thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của tôn giáo cổ truyền của họ, Tây
phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ 17 mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên
nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi: cái gì con người cũng
làm được, thiên nhiên đã bị nhân hóa. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác,
bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết
rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn những chất độc do chính
con người thải ra. Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính
con người.
Các tôn giáo khác nói: không được
giết người.
Phật giáo nói: tôi nguyện không sát
sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên
nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con
người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.
Tôi vừa động đến một vấn đề hiện
đại có tính tiêu cực: vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng
hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy,
sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo hiện đại như thế nào, tôi bắt
qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.
- Cao Huy Thuần.
(Trích: HÃY BAY VỚI HAI CÁNH VÀO
HIỆN ĐẠI.)



0 Nhận xét