Đôi lời gửi nhà sử học trần đức
cường, ứng cử viên đại biểu quốc hội!
Cụ Hồ từng dạy: “Dân ta phải biết
sử ta/cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Để cho đồng bào tường gốc tích, hiểu
rõ nguồn cội và những thăng trầm trong lịch sử gần 5000 năm dựng nước và giữ nước
thì Quốc sử chính là xương sống, là trụ cột để kết nối tiếng vọng của ngàn năm
với hiện tại và là cơ sở để các thế hệ tiếp theo dựa vào đó để tiếp nối, ví như
dòng sông chảy mãi không ngừng. Đảng, nhà nước và nhân dân rất quan tâm, đặt trọng
niềm tin ở cố giáo sư Phan Huy Lê và hơn 300 nhà sử học trong cả nước và khi
ông Phan Huy Lê mất thì trách nhiệm đó lại được đặt trên vai Trần Đức Cường và
những nhà sử học khác như Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Minh Giang, Dương Trung Quốc…
Thế nhưng trong những năm gần
đây, dư luận rất buồn lòng và phản đối mạnh mẽ trước một số nội dung trong Quốc
sử và cả những phát ngôn của những nhà sử học có trách nhiệm biên soạn bộ Quốc
sử. Dưới chế độ quân chủ ngày xưa, của Trung Hoa cũng như của Việt Nam, có một
biệt lệ : Người viết sử (sử quan) làm việc độc lập, không tuân theo các chỉ thị
của vua chúa. Nguyên tắc này được áp dụng nhằm bảo đảm tính khách quan của sử
sách, không phụ thuộc vào ý muốn của người đương quyền. Thế nhưng những sử gia
đó phải là người có tâm sáng, lòng trong, không vị tự tư tự lợi hay chủ ý cá
nhân để can thiệp và làm lệch lạc những sự thật lịch sử kiểu như Tư Mã Thiên vì
căm nhà Tần nên bịa ra câu chuyện Tần Thủy Hoàng là con Lã Bất Vi. Với mỗi người
Việt Nam thì những quan điểm sau của Trần Đức Cường và những nhà sử học cùng
quan điểm với ông chắc chắn không bao giờ được chấp nhận:
Thứ nhất: ca ngợi triều đại nhà mạc và mạc đăng dung
Mạc Đăng Dung soán ngôi nhà Lê
năm 1527, nghĩ thoáng ra thì đó cũng chỉ là câu chuyện nội bộ của nước Việt,
triều nay thay thế triều khác là chuyện bình thường khi mà triều cũ khí số đã tận;
không đủ sức gánh vác sơn hà; ví như nhà Tiền Lê thay nhà Đinh, nhà Lý thay nhà
Lê, nhà Trần thay nhà Lý…thế nhưng việc cắt đất, dâng cho ngoại bang mà cụ thể
là nhà Minh của Mạc Đăng Dung thì thiên thu, vạn đại vẫn là tội đồ dân tộc, tội
nhân thiên cổ! Mạc Đăng Dung không chỉ cắt đất cho nhà Minh một lần mà ông ta
làm đến 2 lần. năm 1528 “Đăng Dung sợ vua Minh hỏi tội liền lập mưu cắt đất
dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng, bạc cùng châu
báu vật lạ. Vua Minh nhận, từ đó Bắc Nam thông hiếu đi lại” - Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư.
Lần hai, năm 1540, Mạc Đăng Dung
cùng với cháu là Văn Minh và bề tôi là Nguyễn Như Quế, Đỗ Chế Khanh, Đặng Văn
Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng, Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy Nhất, Bùi
Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi người đều cầm thước, buộc dây ở cổ, đi chân
không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu
hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước để chờ phân xử,
dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh
An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu.
Vậy nên việc xuyên tạc lịch sử,
ca ngợi Mạc Đăng Dung và triều Mạc là không thể chấp nhận!
Thứ hai: rửa mặt, ca ngợi nguyễn ánh và nhà nguyễn:
Nguyễn Ánh cầu cứu vua Xiêm, vua
Xiêm lợi dụng cơ hội để âm mưu chiếm đất Gia Định và thôn tính Chân Lạp, đã cử
Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 5 vạn quân theo hai đường thủy bộ cùng với tàn
quân của Nguyễn Ánh tiến đánh Gia Định. Đêm 19 rạng ngày 20/1/1785, người anh
hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ đã lãnh đạo quân và dân ta đánh tan quân Xiêm ở Rạch
Gầm - Xoài Mút (nay thuộc tỉnh Tiền Giang).
Cuối năm 1788, khi quân Thanh đã
chiếm đóng thành Thăng Long. Nguyễn Huệ lãnh đạo nhân dân ta chuẩn bị tấn công
quân Mãn Thanh thì Nguyễn Ánh sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Đồ mang thư và
chở 50 vạn cân lương ra giúp quân xâm lược Mãn Thanh. Trời bất dung gian, cả
đoàn thuyền bị một cơn bão nhấn chìm xuống biển Đông, nhưng hành động này nói
lên bản chất cực kỳ phản động của Nguyễn Ánh. Đây là tội nghiêm trọng nhất. Bởi
giúp Thanh đánh Tây Sơn tức là mong Thanh thắng, là chấp nhận Bắc thuộc, là
hành động phản quốc.
Cả quân Xiêm và quân Thanh đều bị quân và dân ta do Nguyễn Huệ lãnh đạo đánh cho tan tác còn một số ít phải trốn chạy về nước. Rõ ràng, thời Quang Trung đất nước ta đã thống nhất. Nguyễn Ánh được kế thừa sự nghiệp đó, song Nguyễn Ánh lại cầu cứu rước tư bản phương Tây đặc biệt là tư bản Pháp vào xâm lược nước ta, tròng vào cổ nhân dân ta xích xiềng nô lệ kéo dài gần 100 năm.
Kể từ năm 1787, với sự giúp đỡ mạnh
mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Pigneau de Béhaine (tức Bá Đa Lộc),
Nguyễn Ánh quay trở lại Gia Định. Trước đó, ngày 25 tháng 1 năm 1787, Bá Đa Lộc
(giáo sĩ người Pháp làm cố vấn cho Nguyễn Ánh) đã thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước
Versailles (1787) với Pháp. Theo đó, vua Pháp đồng ý cử sang 4 chiếc tàu chiến
và một đạo binh: 1.200 lục quân, 200 pháo binh, 250 lính da đen ở Phi Châu
(Cafres) và đủ các thứ súng ống thuốc đạn để đánh Tây Sơn. Ngược lại, sau khi
chiến thắng, Nguyễn Ánh phải nhường đứt cho nước Pháp cửa Hội An (Faifo) và đảo
Côn Lôn (Poulo-Condore), chủ quyền các vùng đất đó sẽ vĩnh viễn thuộc về nước
Pháp ngay lúc quân đội Pháp chiếm đóng hòn đảo nói trên. Đúng lúc đó thì nước
Pháp xảy ra Cách mạng, vua Pháp không thực hiện Hiệp ước nhưng Bá đa lộc đã kêu
gọi các thương nhân người Pháp trợ giúp cho Nguyễn Ánh. Như vậy, đây là lần thứ
ba Nguyễn Ánh phò ngoại bang, bán nước cho giặc.
Đại Nam Thực Lục lẫn Đại Nam Nhất Thống Chí, Trấn Ninh nguyên là nước (Mueang) Bồn Man, trở thành chư hầu phụ thuộc của Đại Việt từ thời Lê Thánh Tông và để trả công họ giúp mình đánh Tây Sơn nên Nguyễn Ánh đã cắt đất Trấn Ninh dâng cho họ, giờ là lãnh thổ của Lào. Đại Nam thực lục (sử triều Nguyễn) chép rành mạch: “Trấn Ninh vốn là bờ cõi cũ của ta, xưa đức Tiên đế đem cho Vạn Tượng”.
Rõ ràng cả Mạc Đăng Dung và Nguyễn
Ánh đều là những kẻ bán nước, cỏng rắn cắn gà nhà, rước voi giày mả tổ. Trần Đức
cường và một số nhà sử học, báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ dù đăng hàng loạt bài hòng
rửa mặt cho Mạc Đăng Dung và Gia Long nhưng chắc chắn không ai là người Việt
Nam chân chính chấp nhận./.
----------------
Nguyễn Ánh không những là tên việt
gian cõng rắn cắn gà nhà. Hắn còn giam vợ giết con. Cầm thú còn không sánh nổi
với hắn.
Bà thứ phi trung trinh tiết liệt.
Bà Hoàng Phi Yến(tên thật là Lê
Thị Răm)-là thứ phi của chúa Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh). Năm 1783, Nguyễn Ánh
bôn đào ra Côn Đảo để tránh sự theo dõi của quân Tây Sơn. Vì thất bại liên tiếp,
nên ông có ý định đưa hoàng tử Hội An(có tên tục là hoàng tử Cải) tháp tùng
cùng Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin để cầu viện vua Louis thứ 16 của nước
Pháp. Nhà Nguyễn hứa nhường cho Pháp chủ quyền cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn
Đảo. Đổi lại, Pháp giúp Nguyễn Ánh 4 tàu chiến, 1.200 quân, 200 lính pháo thủ,
250 lính người Phi (châu Phi) để Nguyễn Ánh đánh trả quân Tây Sơn. Bà Phi Yến
biết được việc này nên đã ngỏ lời khuyên Nguyễn Ánh rằng : “Việc đánh nhau với
Tây Sơn là chuyện trong nhà, thiếp nghĩ Chúa công không nên nhờ vả ngoại bang,
nếu thắng được Tây Sơn thì chẳng vẻ vang gì mà e còn lắm điều rối rắm về sau”.
Không ngờ Nguyễn Ánh nổi trận lôi
đình. Nghi ngờ bà Phi Yến có ẩn ý thông đồng với quân Tây Sơn. Nếu không nhờ
các cận thần hết lòng can gián thì bà đã bị tội chém đầu. Nhưng bà vẫn bị Nguyễn
Ánh truyền lệnh giam cầm ở hòn Côn Lôn nhỏ (Hòn Bà ngày nay).
Vừa lúc đó quân Tây sơn đã truy theo đến gần Côn Đảo. Ông ta ra lệnh lên thuyền chạy tiếp. Lúc đó Hoàng tử Hội An là người con duy nhất của bà Phi Yến với Nguyễn Ánh khóc đòi vua cha cho mẹ được đi theo, nếu không hoàng tử ở lại với mẹ. Nguyễn Ánh không bằng lòng, nói với các quan trong triều: “Thằng nhãi con này rất có thể một lòng với mẹ phản lại ta. Ngay bây giờ nếu ta không trừ trước, biết đâu nó chẳng phải là một phản tặc loạn thần...”.
Chính tay Nguyễn Ánh túm lấy
Hoàng tử Cải ném xuống biển, ông nói: “Ta cho phép mày đi theo mẹ mày”.
Truyền thuyết kể, lúc ấy con hắc
hổ của hoàng từ Cải nuôi vội vàng lao theo, ý để cứu giúp hoàng tử. Nhưng không
kịp rồi, xác hoàng tử từ từ chìm xuống biển, hắc hổ bơi luôn vào bờ.
Ba ngày sau, xác hoàng tử trôi
vào làng Cỏ Ống, con hắc hổ đứng sẵn đó, kéo xác hoàng tử lên bờ, dùng hai chân
trước đào bới một hố sâu để chôn, lấp lại. Ngày nay tại làng này còn ngôi mộ và
miếu thờ Hoàng tử Hội An (Thiếu Gia Miếu).Theo truyền thuyến dân gian kể lại, hắc
hổ vào rừng kiếm ăn bất ngờ gặp con vượn bạch được hoàng tử nuôi cùng. Vượn bạch
đưa hắc hổ về mở cửa hang đưa bà Phi Yến đến mộ Hoàng tử Cải. Chuyện truyền
thuyết đã có hàng trăm năm nay, song trong dân gian vẫn lưu truyền lời ru:
“Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”.
Rằm tháng Mười, năm Ất Tỵ (1785) dân làng An Hải mời Bà từ làng Cỏ Ống về dự lễ đàn chay. Trong làng có tên đồ tể Biện Thi thấy Bà là người có nhan sắc, nên nửa đêm lẻn vào phòng Bà toan giở trò đồi bại, hắn vừa mới chạm vào cánh tay, Bà liền tỉnh giấc tri hô. Vì bị xúc phạm tiết hạnh, nên Bà đã tự chặt cánh tay mà tên đồ tể đã chạm vào. Đêm hôm đó Bà Phi Yến đã liều mình tự vẫn để được vẹn toàn danh tiết.
Số phận đã an bài cho bà thứ phi
Phi Yến yên nghỉ tại làng An Hải, dân làng lo việc an táng và lập miếu thờ bà –
người phụ nữ “trung trinh tiết liệt”. Hằng năm cứ đến ngày 18 tháng 10 âl, người
dân Côn Đảo tổ chức lễ giỗ bà rất long trọng và thường là làm giỗ chay để tưởng
nhớ bà.
Vào ngày 18/4/2007 UBND tỉnh Bà Rịa
– Vũng Tàu ra quyết định số 1442/QĐ-UBND công nhận di tích An Sơn Miếu là di
tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh.
Bài viết nhân chuyến thăm Côn Đảo
ngày 13/4/2021.
Lão chăn bò DVK – MNQ



0 Nhận xét